Sandwich

Bánh sandwich 1 Phút 30 Giây với đặc thù 4 lớp bánh, 3 lớp nhân, làm cho chiếc bánh hấp dẫn và khẩu vị hòa quyện. Những chiếc bánh được sản xuất bởi các chuyên gia bánh mì có kinh nghiệm lâu năm đến từ Đài Loan, mang chất lượng ổn định, có khẩu vị đặc sắc riêng biệt. Kèm theo đó, những chiếc bánh sandwich được kết hợp với chà bông xốp, jambon, trứng chiên, pate, salad,…cho ra những phần sandwich với khẩu vị tuyệt vời, làm cho thực khách khó cầm lòng. Ngoài ra, khi mua sandwich, quý khách có thể chọn một loại nước uống bất kỳ như: trà sữa, sữa đậu nành, nước ngọt có gas, tạo ra phần ăn sáng đầy đủ dinh dưỡng.

 

 

1. Lịch sử bánh sandwich:

Bánh mì kẹp, còn gọi là bánh kẹp, bánh xăng-đuých hay xăng-uých (phiên âm từ tiếng Anhsandwich), là đồ ăn thường có ít nhất hai lát bánh mìvà những lớp kẹp, nhất là thịtđồ biển, hay phó mát cùng với rau hay xà lách. Có thể dùng bánh mì không, hay có thể quét dầumù tạc hay đồ gia vị khác.

Hình thức bánh mì kẹp đầu tiên được cho là do hiền nhân Do Thái cổ Hillel, người ta cho rằng ông kẹp thịt cừu và những rau đắng (maror) vào bánhmatzo (hay bánh bằng phẳng không men) để ăn mừng lễ Vượt Qua. Đồ kẹp vào giữa hai miếng matzo nhắc những người Do Thái về việc phải xây dựng những tòa nhà Ai Cập. Vì thế, người La Mã cổ gọi món ăn này là cibus Hilleli, hay bữa nhỏ của Hillel.

Vào thời Trung cổ, những mảng bánh mì cũ lớn gọi là trencher được dùng làm đĩa. Sau buổi ăn, miếng bánh mì bẩn này được đưa cho chó hay người ăn xin để ăn, hay được ăn bởi người đầu tiên. Những trencher dẫn đến bánh xăng-đuých trần (open-face sandwich).

Trong nhiều ngôn ngữ châu Âu, bánh mì kẹp có tên giống sandwich (tiếng Anh) hay sándwich (tiếng Tây Ban Nha). Ở Cận Đông, vùng Địa Trung Hải, và những vùng châu Âu khác, có những món ăn thịt, trái cây, phó mát, và đồ gia vị kẹp vào giữa bánh mì hay bánh ngọt trước khi tên này hiện ra lâu. Tên này xuất hiện lần đầu tiên trong nhật ký của Edward Gibbon, tác giả gọi "những miếng thịt nguội" là sandwich. Nó được đặt tên theo John Montagu, Bá tước Sandwich thứ 4, người quý tộc Anh vào thế kỷ 18, nhưng ông không phải là người sáng tạo đồ ăn này hay người làm nó phổ biến. Người ta cho rằng Ngài Sandwich thích loại đồ ăn này vì nó để ông tiếp tục đánh bài, nhất là cribbage, khi ăn, trong khi không phải làm dơ các bài vì ăn thịt bằng tay không.

Vào thế kỷ 18, bánh mì kẹp được làm phổ biến bởi Montagu và vẫn phần lớn là đồ ăn Tây Ban Nha. Tuy nó mới đầu được coi là để đàn ông ăn khi đánh bài và uống rượi ban đêm, nhưng bánh mì kẹp từ từ bắt đầu xuất hiện ở những trường hợp lịch sự là một bữa ăn trễ ban đêm của những người giàu có. Bánh mì kẹp trở thành đồ ăn rất phổ biến ở Tây Ban Nha và Anh vào thế kỷ 19, khi có công nghiệp nặng và giai cấp công nhân cần bữa ăn nhanh, rẻ, và dễ mang theo.

Vào lúc này, bánh mì kẹp bắt đầu được ăn ngoài châu Âu. Ở Hoa Kỳ, bánh mì kẹp mới đầu được quảng cáo là một buổi tối phức tập. Vào thế kỷ 20, khi bánh mì trở thành nền của đồ ăn Mỹ, bánh mì kẹp trở thành bữa ăn nhanh, rẻ, và phổ biến như đã có ở vùng Địa Trung Hải.

2. Câu chuyên bên lề:

Đừng quên phương pháp bánh sanhwich

Nếu bạn xem lại các ghi chú của bạn trong mùa hè qua, bạn có thể tìm thấy phần "bánh mì thính giác" trong phần giáo dục thính giác-lời nói 101 ngày 1 và trong những phần giáo dục thính giác-lời nói khác. Một lời nhắc nhở ngắn gọn về cách làm bánh Sandwich thính giác:

Bánh mì = nghe mà không có sự gợi ý từ thị giác
Thịt = nghe và chỉ cho trẻ nhìn môi của bạn, chỉ trỏ, đưa ra một đồ vật, hoặc làm cử chỉ.
Bánh mì = nghe mà không có sự gợi ý từ thị giác

Khi bạn sử dụng bánh mì thính giác, lát bánh mì tương tự như cho trẻ một cơ hội để lắng nghe chỉ với đôi tai của mình. Điều này được làm bằng cách che miệng của bạn hoặc bằng cách ngồi bên cạnh trẻ mà không để cho trẻ nhìn thấy đôi môi của bạn, không chỉ trỏ hay đưa ra đồ vật. Sau đó, quan sát và xem liệu trẻ có phản ứng không.

Nếu liệu pháp bánh Sandwich trơn ( không kẹp thịt ) không có hiệu quả và trẻ không phản ứng, bạn cần thêm vài miếng thịt. Phần thịt của bánh mì là phần mà bạn nói từ hoặc cụm từ VÀ bạn cũng cung cấp những gợi ý về thị giác. Bạn có thể để cho trẻ đọc đôi môi của bạn trong khi các em đang lắng nghe hoặc là đưa ra một hình ảnh. Bạn cũng có thể chỉ vào một đồ vật, hoặc dùng cử chỉ. 

Sau khi bạn đặt thịt vào bánh mì,bạn phải luôn luôn đặt thêm một lát bánh mì lên trên cùng. Hãy để cho trẻ lắng nghe mà không có sự gợi ý về thị giác nào. Mỗi khi bạn dùng bánh mì thính giác cho trẻ, bạn phải sử dụng bánh mì ở đầu và cuối.

Đây là một ví dụ về cách sử dụng bánh mì thính giác từ đầu đến cuối. Bạn muốn trẻ làm theo chỉ dẫn của bạn để đi lấy đôi giày của trẻ. Đứng bên cạnh trẻ hoặc che miệng của bạn và nói, "Đi lấy đôi giày của con đi". Bạn có thể nói điều này một vài lần. Nếu trẻ vẫn không hiểu, bạn cần phải thêm một số gợi ý về thị giác (phần thịt cho bánh mì). Tiếp theo bạn nói, " Đi lấy đôi giày của con đi " và chỉ vào đôi giày. Sau khi đứa trẻ lấy đôi giày, các em cần một cơ hội khác để nghe sự hướng dẫn (miếng bánh mì cuối cùng). Vì vậy, một lần nữa, không có bất kỳ sự gợi ý nào về thị giác, bạn có thể nói như sau: "Con có đôi giày của con rồi. Cô đã nói, Đi lấy đôi giày của con đi và con có đôi giày của con